HỒ CHÍ MINH VỚI CÔNG TÁC THƯ VIỆN
Kế thừa truyền thống ham đọc sách của dân tộc và gia đình, Hồ Chủ tịch đã luôn coi trọng việc đọc và học từ sách. Nhưng với Người, đọc sách không chỉ đơn thuần là để giải trí hay để giải quyết các công việc sự vụ, nâng cao các hiểu biết thông thường. Người đọc chủ yếu để phục vụ cách mạng với niềm khao khát tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Với Người, sách chính là “thuốc chữa tội ngu” và là một trong những nguồn quan trọng có thể đưa ra lời giải đáp cho câu hỏi tự do, bình đẳng, bác ái là gì ?
Là một nhà chính trị, Người nhận thức rõ không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng. Và sách báo chính là một nguồn cung cấp và phổ biến lý luận cách mạng cho quần chúng. Trong cuốn “Đường cách mệnh” phần “Cách tổ chức công hội” Người đã nêu ra bảy điểm sẽ làm (nếu có tiền dư) trong đó điểm thứ ba là lập nơi xem sách báo cho công nhân được đặt bên cạnh việc lập trường học cho công nhân cùng con em công nhân và lập nhà thương cho họ. Điều đó chứng tỏ ngay từ khi chưa giành được chính quyền, Hồ Chủ tịch đã rất chú trọng đến công tác thư viện và việc phục vụ nhu cầu đọc sách báo được đặt cùng với nhu cầu được học tập và nhu cầu được chữa bệnh khi đau ốm.
Ngay sau khi giành được chính quyền, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 18 về việc đặt thể lệ lưu chiểu văn hoá phẩm trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 31 tháng 1 năm 1946. Nội dung Sắc lệnh gồm có 6 chương quy định rõ về cách tổ chức việc nộp lưu chiểu văn hoá phẩm. Sắc lệnh này đã được thi hành trong nhiều năm, góp phần đảm bảo cho các thư viện, đặc biệt là Thư viện Quốc gia Việt Nam có điều kiện thu thập, tàng trữ và sử dụng các tài liệu được xuất bản trên đất nước Việt Nam, phục vụ nhu cầu đọc của cán bộ và nhân dân.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã bôn ba khắp trời Âu biển Á, từ Pari hoa lệ đến xứ sở sương mù, nhưng ấn tượng sâu nặng nhất với Người là nước Nga Xô viết. Mảnh đất này không chỉ hấp dẫn Hồ Chí Minh vì đã biến “người nô lệ thành người tự do” mà nơi ấy còn tạo cho người dân có được cuộc sống đầy đủ về cả vật chất lẫn tinh thần. Nước Nga Xô viết đã khiến Người rung động vì nhiều lẽ, trong đó có một điểm khiến Người chú ý là nơi đây có một sự nghiệp thư viện phát triển, mạng lưới thư viện dày đặc khắp toàn quốc. Ở bất cứ nơi đâu, người dân Liên Xô cũng có thể sử dụng thư viện. Về điều này Người đã kể lại trong “Liên xô vĩ đại”, một tác phẩm Người viết vào tháng 10 năm 1957 như sau: “Liên Xô có 392.000 thư viện với 1.300 triệu sách. To nhất là Thư viện Lênin ở Mátxcơva, với 19 triệu quyển sách bằng 160 thứ tiếng, trong số đó 2.200.000 quyển là sách nước ngoài. Mỗi ngày, hơn 5.000 người đến xem sách ở Thư viện Lênin. Các nhà máy, nông trường, cơ quan, trường học nào cũng có phòng sách. Chỉ tính ở nông thôn đã có hơn 119.000 thư viện với hơn 300 triệu quyển sách. Cố nhiên gia đình nào cũng có một tủ sách”.
Riêng với trẻ em ở Liên Xô, Người đã chú ý đến một chi tiết: "Các thành phố đều có một thư viện và một hàng sách đặc biệt cho trẻ em. Thiếu nhi có một tờ báo riêng. Tờ báo “Sự thật thiếu nhi” ở Mạc Tư Khoa có một số lớn biên tập viên và thông tin viên trẻ em với độ một triệu bạn đọc nhỏ ”.
Quá trình hoạt động cách mạng, người đã từng là bạn đọc của một số thư viện, tiêu biểu là Thư viện quốc gia Pháp và Thư viện Đại học Phương Đông. Nhờ sử dụng sách báo tại các thư viện này mà Người đã có nhiều tư liệu quý báu để viết sách, báo và nâng cao kiến thức, lý luận cách mạng. Với Người, tác dụng của sách báo và thư viện không chỉ giúp ích cho việc học tập, nâng cao trình độ mà trong những bối cảnh nhất định nó còn có sức công phá mạnh hơn cả đạn bom. Trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, Hồng quân Liên Xô đóng vai trò quyết định trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất khâm phục đội quân hùng mạnh này. Song, cái làm nên sức mạnh của đội quân ấy không chỉ đơn thuần là sự trang bị đầy đủ về vũ khí, đạn dược có huấn luyện, có tổ chức mà cơ bản là “Hồng quân Liên Xô đã được hưởng thụ một nền văn hoá và giáo dục tốt đẹp... Không nói chi đến việc cung cấp lương thực, quần áo, súng đạn được đầy đủ mà ngay cả đến sách báo... Hồng quân cũng được hưởng đầy đủ”. Hệ thống thư viện trong quân đội Xô viết đã cung cấp sách báo cho các chiến sĩ ngay cả chốn sa trường. Và chính điều này đã góp một phần không nhỏ tạo nên sức mạnh tinh thần cho đội quân hùng hậu ấy.
Sau khi đã trở thành Chủ tịch nước, Người đã luôn quan tâm đến việc xây dựng tủ sách cho các cháu thiếu nhi. Bằng nhiều cách khác nhau, Người luôn cố gắng tạo mọi điều kiện để các cháu có sách đọc. Ngày 23/3/1963, khi đọc báo Hà Nội mới, qua bài “Tủ sách nhỏ” Người được biết có ba em nhỏ đang góp tiền xây dựng ‘Tủ sách Kim Đồng”. Đọc xong, Người đã ghi ngay bên cạnh bài báo: “Đi xem. Về, Văn phòng có thể gửi cho một số sách mà các em chưa có”.
Trong điều kiện kinh tế còn eo hẹp, không phải bất cứ ai cũng có tiền mua sách báo, Hồ Chủ tịch đã chỉ ra một biện pháp khắc phục rất dễ thực hiện - đọc tập thể. Không trực tiếp đặt ra việc lập các thư viện công đoàn nhưng Người đã phân tích và vạch ra biện pháp giải quyết về vấn đề này như sau: “Khi xem báo thấy những vấn đề quan trọng, thì nên cùng nhau thảo luận. Gặp vấn đề gì khó hiểu, thì nên viết thư hỏi nhà báo”.
Hồ Chủ tịch đã được nhận và cũng đã trao tặng nhiều sách báo. Người cũng đã có công xây dựng nên phong trào đọc sách ở trong nhân dân và đặc biệt là trong lứa tuổi thanh thiếu niên. Nhân dịp kỉ niệm lần thứ 70 ngày sinh của Bác, thanh thiếu niên xã Ngọc Thuỵ (Gia Lâm - Hà Nội) đã gửi lụa tặng Hồ Chủ tịch và Người đã đáp lại tấm lòng của lớp trẻ bằng một món quà đặc biệt. Cuốn “Bác Hồ với nông dân Hà Nội” đã ghi nhớ về món quà đó như sau: "Bác đã gửi tặng lại thanh niên xã Ngọc Thuỵ một tủ sách hơn 200 cuốn được mua bằng tiền nhuận bút viết báo của Người. Đấy là những cuốn sách hay, những chuyện về các người lãnh đạo giỏi, sách khoa học kỹ thuật nông nghiệp và cả những chuyện cổ tích nữa”.
Đặc biệt, Người rất tuân thủ các nguyên tắc sử dụng thư viện. Theo lời kể của ông Rudolf Pfutner, Đại sứ Cộng hoà Dân chủ Đức tại Việt Nam từ năm 1955 đến 1959, có một lần, Hồ Chủ tịch đã ngỏ ý nhờ ông mượn cho một cuốn sách về các loại mô hình máy móc mà Người đã có dịp xem hồi hoạt động bí mật ở Beclin. Vị đại sứ ấy đã tìm được cuốn sách và xin được tặng Hồ Chủ tịch. Hiềm một nỗi trong sách có in dấu thư viện. Khi nhận được sách, Hồ Chủ tịch đã tỏ ý không hài lòng và Người đã kiên quyết trả lại. Người còn nhắc nhở: “Không được lấy sách thư viện để tặng như vậy”.
Hồ Chủ tịch đã đi xa nhưng tên tuổi và sự nghiệp của Người sẽ còn sống mãi với non sông đất nước. Riêng với những người làm công tác thư viện, những đóng góp, những câu truyện với việc đọc, tự học và sự quan tâm đến công tác thư viện của Người sẽ mãi là nguồn động viên khích lệ để hoàn thành tốt nhất những nhiệm vụ được giao.
(Trích trong bài viết “Bác Hồ với công tác thư viện” và “Chủ tịch Hồ Chí Minh với đọc sách và tự học” của Vũ Dương Thúy Ngà)